Skip to main content

Trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại tại Tòa án và những lợi ích cho xã hội

(04/01/2022 11:01)

Thực tiễn giải quyết các tranh chấp, yêu cầu dân sự và khiếu kiện hành chính tại Việt Nam cho thấy, hòa giải, đối thoại (HGĐT) có vai trò đặc biệt quan trọng. Với cách thức thân thiện, đồng thuận trên nguyên tắc chia sẻ, cảm thông, HGĐT góp phần hàn gắn những mâu thuẫn, rạn nứt, nâng cao ý thức pháp luật của người dân, ngăn ngừa các tranh chấp trong tương lai, tạo sự đồng thuận, xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân, góp phần bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Hòa giải thành (HGT), đối thoại thành (ĐTT) giúp giải quyết triệt để, hiệu quả các tranh chấp mà không phải mở phiên tòa xét xử; kết quả HGT, ĐTT phần lớn được các bên tự nguyện thi hành, vụ việc không phải trải qua thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng; tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của các bên liên quan và nhà nước; hạn chế tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc trong dự luận. Hiện nay, việc HGĐT được thực hiện cả trong tố tụng và ngoài tố tụng với nhiều cơ quan tổ chức khác nhau thực hiện. Việc thực hiện HGĐT đã mang nhiều kết quả tích cực, rất nhiều vụ việc tranh chấp, khiếu kiện đã được hòa giải thành, đối thoại thành. Tuy vậy, vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, số vụ việc về dân sự, khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án ngày càng tăng, trở thành áp lực cho Tòa án. Điều này đặt ra vấn đề cần phải có cơ chế hòa giải, đối thoại mới, gắn hoạt động hòa giải, đối thoại với Tòa án và huy động nguồn lực có kiến thức, kinh nghiệm của xã hội tham gia thì việc hòa giải, đối thoại sẽ tốt hơn. Tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (từ đây gọi tắt là Luật HGĐT) đã được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2020, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2021. Như vậy, kể từ đây, bên cạnh thủ tục hòa giải theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và thủ tục đối thoại theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính thì hệ thống pháp luật Việt Nam còn có thêm một hình thức giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính mới theo trình tự, thủ tục của Luật HGĐT. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích, làm rõ một số quy định của pháp luật về HGĐT tại Tòa án, đồng thời chỉ ra những lợi ích mà thiết chế mới này mang đến cho xã hội.

1.Quy định pháp luật về hòa giải, đối thoại tại Tòa án

1.1.Khái niệm hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Tại một số nước trên thế giới theo hệ thống thông luật (Common Law) như Mỹ, Ấn Độ...việc hòa giải các vụ án dân sự, hành chính được quy định chung trong Bộ luật Dân sự (BLDS) và Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) mà không có sự phân biệt giữa tố tụng dân sự và tố tụng hành chính. Các Bộ luật này cũng quy định trình tự, thủ tục hòa giải trong tố tụng (tại Tòa án) và trình tự, thủ tục hòa giải ngoài tố tụng (tại Trung tâm hòa giải tại Tòa án) khi giải quyết các tranh chấp dân sự và khiếu kiện hành chính.

Theo Từ điển tiếng Việt, hòa giải là “hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa”; còn đối thoại là “nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau” hoặc là “bàn bạc, thương lượng trực tiếp với nhau giữa hai hay nhiều bên để giải quyết các vấn đề tranh chấp1. Như vậy, có thể hiểu hai hoạt động này đều là những biện pháp giải quyết tranh chấp, xích mích trong các quan hệ xã hội và được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới.

Ở Việt Nam, nếu quan hệ dân sự là quan hệ hoàn toàn bình đẳng giữa các bên về quyền và nghĩa vụ thì quan hệ hành chính Nhà nước lại có đặc thù riêng, một bên bao giờ cũng là cơ quan hành chính Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước thi hành quyền lực hành chính công và một bên là cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu sự điều hành, quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước. Do đó, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) để cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng giải quyết các vụ việc dân sự, còn Luật tố tụng hành chính (Luật TTHC) để áp dụng khi giải quyết các vụ án hành chính, theo đó thủ tục HGĐT trong tố tụng là một trong những thủ tục Tòa án bắt buộc phải thực hiện khi giải quyết các vụ việc dân sự và vụ án hành chính. Giữa hòa giải trong TTDS và đối thoại trong TTHC có sự khác biệt nhất định, xuất phát từ tính chất “thỏa thuận” trong giải quyết tranh chấp dân sự và “không thể thỏa thuận” trong giải quyết khiếu kiện hành chính vì bên bị kiện thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Bên cạnh phương thức giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện thông qua HGĐT trong TTDS và TTHC nêu trên, kể từ ngày 01/01/2021, HGĐT còn được quy định trong Luật HGĐT. Vì thời gian gần đây, hệ thống Tòa án Việt Nam cũng gặp phải tình trạng “tắc nghẽn tại Tòa án và tiếp cận công lý2 như một số nước trên thế giới đã từng gặp. Số vụ việc các Tòa án phải giải quyết đến mức quá tải, các vụ việc dân sự, các khiếu kiện hành chính tiếp tục có xu hướng gia tăng mạnh do hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, thẩm quyền của Tòa án được mở rộng. Mô hình HGĐT ngoài tố tụng tại Tòa án được thể chế hóa trong Luật HGĐT tại Tòa án sẽ giúp “tìm ra con đường giải quyết khiếu kiện một cách ít tốn kém hơn, ít rủi ro hơn khi có thể và khi mà có thể tránh được việc mở phiên tòa, hòa giải ở các bước tiếp theo3. Như vậy, có thể hiểu, HGĐT tại Tòa án là một hoạt động ngoài tố tụng do chủ thể có thẩm quyền tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ án theo đề nghị của các bên tham gia HGĐT nhằm giúp cho các bên tìm được phương thức giải quyết tranh chấp, yêu cầu dân sự và khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án một cách ôn hòa, nhanh chóng và thuận tiện.

Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 2 Luật HGĐT thì hòa giải tại Tòa án là hoạt động hòa giải do Hòa giải viên (HGV) tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự, nhằm hỗ trợ các bên tham gia hòa giải thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự, nhằm hỗ trợ các bên tham gia hòa giải thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Luật này. Đối thoại tại Tòa án là hoạt động đối thoại do HGV tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ án hành chính, nhằm hỗ trợ các bên tham gia đối thoại thống nhất giải quyết khiếu kiện hành chính theo quy định của Luật này.

Từ khái niệm này, có thể rút ra một số đặc trưng của HGĐT tại Tòa án như sau:

Thứ nhất, HGĐT tại Tòa án là một trong những phương thức giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính được pháp luật quy định.

Thứ hai, HGĐT tại Tòa án do HGV tiến hành trước khi tòa án thụ lý vụ án.

Thứ ba, hoạt động HGĐT tại Tòa án chỉ được thực hiện đối với các vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ những vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính không tiến hành HGĐT theo quy định của Luật HGĐT và đồng thời phải được sự đồng ý của các bên tham gia hòa giải, đối thoại.

Thứ tư, các bên tham gia HGĐT có quyền yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án có hiệu lực pháp luật ngay và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và pháp luật về tố tụng hành chính.

1.2. Phạm vi hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật HGĐT thì HGĐT được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của BLTTDS, Luật TTHC. Như vậy, HGĐT tại Tòa án được tiến hành đối với hầu hết các vụ việc dân sự và hành chính, trừ những trường hợp không tiến hành HGĐT tại Tòa án.

Theo quy định tại Điều 19 Luật HGĐT thì những trường hợp sau đây sẽ không tiến hành HGĐT tại Tòa án, bao gồm:

- Yêu cầu đòi bồi thường do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.

Cũng giống như thủ tục hòa giải trong TTDS, HGV không tiến hành HGĐT tại Tòa án đối với yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước. Bởi lẽ, bất cứ hành vi nào gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước đều là trái pháp luật và phải chịu trách nhiệm bồi thường. Người gây thiệt hại không có quyền điều đình, thương lượng thỏa thuận với Nhà nước về trách nhiệm bồi thường của mình

- Vụ việc dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội. Đối với những vụ việc này, HGV cũng không hòa giải vì các giao dịch vô hiệu. Các bên tham gia giao dịch không thể thỏa thuận để giải quyết hành vi vi phạm pháp luật của mình.

- Người khởi kiện, người yêu cầu, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được mời HGĐT lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc không thể tham gia hòa giải, đối thoại được vì có lý do chính đáng.

Một trong những yêu cầu của HGĐT là sự thiện chí và trung thực của các bên tham gia nên mặc dù các bên đã đồng ý hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhưng trong quá trình thực hiện, HGV mời các bên tham gia HGĐT nhưng có người vắng mặt đến lần thứ hai mà không thuộc trường hợp nêu trên thì phải coi đây là trường hợp không HGĐT được.

- Một bên vợ hoặc chồng trong tranh chấp ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.

Quyền kết hôn, quyền ly hôn là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp luật có quy định khác. Tại khoản 3 Điều 206 BLTTDS năm 2015 cũng quy định, đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Do đó, trên cơ sở tính tương thích với BLTTDS thì Luật HGĐT cũng quy định đối với đơn khởi kiện xin ly hôn mà có một bên vợ hoặc chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì phải xác định đây là trường hợp không HGĐT tại Tòa án.

- Một trong các bên đề nghị không tiến hành HGĐT.

Theo khoản 1 Điều 3 của Luật HGĐT thì HGĐT tại Tòa án chỉ được tiến hành khi các bên dồng ý thực hiện HGĐT. Sau khi nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, nếu thuộc diện được HGĐT thì Tòa án phải thông báo cho người khởi kiện biết vụ việc sẽ được thực hiện HGĐT tại tòa án và yêu cầu người khởi kiện cho biết ý kiến. Tòa án chỉ được chỉ định HGV khi người khởi kiện, người yêu cầu có ý kiến đồng ý hòa giải, đối thoại hoặc sau 3 ngày nhận được thông báo lần thứ hai mà người khởi kiện, người yêu cầu không trả lời. Sau khi chỉ định HGV, Tòa án phải thông báo cho người bị kiện kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết. Nếu người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đồng ý thì vụ việc đó không tiến hành HGĐT.

- Một trong các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp, tạm thời.

Theo quy định của BLTTDS năm 2015 và Luật TTHC năm 2015 thì trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự có quyền đề nghị Tòa án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng với việc nộp đơn khởi kiện. Trước khi mở phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do một Thẩm phán xem xét, quyết định. Tại phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do Hội đồng xét xử xem xét, quyết định. Do đó, nếu kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì vụ việc đó không được HGĐT. Trường hợp quá trình hòa giải, đối thoại, có người tham gia yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì HGV phải chấm dứt việc HGĐT, chuyển cho Tòa án xem xét, thụ lý giải quyết theo quy định của BLTTDS, Luật TTHC.

1.3. Trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Trên cơ sở nguyên tắc các bên tham gia HGĐT phải tự nguyện và bảo đảm quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật tố tụng hành chính, Luật HGĐT tại Tòa án quy định cụ thể về trình tự, thủ tục HGĐT tại Tòa án. Có thể tóm tắt ngắn gọn trình tự, thủ tục này như sau:

-Giai đoạn trước khi hòa giải, đối thoại:  Giai đoạn này được bắt đầu từ khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đến Tòa án có thẩm quyền và kết thúc khi có quyết định chỉ định HGV của Thẩm phán được phân công phụ trách hòa giải, đối thoại. Theo quy định từ Điều 16 đến Điều 19 Luật HGĐT và Thông tư số 03/2020/TT-TANDTC ngày 16/11/2020 của Tòa án nhân dân tối cao thì người khởi kiện, người yêu cầu gửi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu kèm theo các tài liệu, chứng cứ đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 190 của BLTTDS năm 2015; Điều 121 Luật TTHC năm 2015. Bộ phận tiếp nhận đơn khởi kiện của Tòa án có trách nhiệm vào sổ nhận đơn, xác nhận việc nhận đơn. Đối với những đơn không thuộc thẩm quyền của Tòa án hoặc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhưng thuộc một trong những trường hợp không tiến hành HGĐT tại Tòa án thì giải quyết theo quy định của BLTTDS, Luật TTHC. Đối với những đơn thuộc thẩm quyền của Tòa án và không thuộc trường hợp không tiến hành HGĐT tại Tòa án thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, Chánh án sẽ thông báo cho người khởi kiện, người yêu cầu biết về quyền lựa chọn HGĐT tại Tòa án. Trong thời hạn ba ngày làm việc, người khởi kiện, người yêu cầu phải trả lời về việc đồng ý hoặc không đồng ý hòa giải, đối thoại. Trong trường hợp nếu người khởi kiện, người yêu cầu từ chối hòa giải, đối thoại thì Chánh án sẽ phân công Thẩm phán xem xét, giải quyết đơn khởi kiện theo quy định của BLTTDS. Nếu người khởi kiện đồng ý hòa giải, đối thoại thì tùy theo từng trường hợp, Thẩm phán được phân công phụ trách hòa giải, đối thoại sẽ chỉ định Hòa giải viên theo sự lựa chọn hoặc sẽ tự mình chỉ định HGV. Tòa án sẽ thông báo bằng văn bản về việc chuyển vụ việc sang hòa giải, đối thoại và văn bản chỉ định Hòa giải viên cho Hòa giải viên, người khởi kiện, người yêu cầu, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Sau khi đã có quyết định chỉ định HGV và các bên không có yêu cầu thay đổi HGV thì vụ án bắt đầu chuyển sang giai đoạn HGĐT.

-Giai đoạn hòa giải, đối thoại. Giai đoạn này được bắt đầu tiếp theo sau giai đoạn tiền hòa giải đến khi tổ chức thành công phiên họp ghi nhận kết quả HGĐT tại Tòa án. Theo quy định từ Điều 20 đến Điều 31 Luật HGĐT thì thời hạn HGĐT tại Tòa án không quá 20 ngày, kể từ ngày HGV được chỉ định; đối với vụ việc phức tạp, thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày. Trường hợp các bên tham gia hòa giải, đối thoại thống nhất kéo dài thì thời hạn hòa giải, đối thoại không quá 02 tháng. Trong thời hạn này, HGV chuẩn bị các công tác cần thiết để hòa giải, đối thoại như tiếp nhận đơn và tài liệu do Tòa án chuyển đến, vào sổ theo dõi vụ việc, nghiên cứu đơn, yêu cầu các bên tham gia hòa giải, đối thoại bổ sung thông tin, tài liệu, chứng cứ.. HGV tiến hành mở phiên HGĐ tại Tòa án. Nếu các bên đạt được sự thỏa thuận, thống nhất với nhau về việc giải quyết toàn bộ hoặc một phần vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính thì HGV sẽ ấn định thời gian, địa điểm mở phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Thành phần phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa án gồm HGV, các bên tham gia hòa giải, đối thoại, người đại diện, người phiên dịch; Thẩm phán phụ trách HGĐT hoặc Thẩm phán khác do Chánh án Tòa án phân công. HGV lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có chữ ký của những người trên. Đến đây, việc hòa giải, đối thoại của các bên đã chấm dứt.

-Giai đoạn sau hòa giải, đối thoại. Sau khi có biên bản hòa giải thành, đối thoại thành, các bên có quyền yêu cầu hoặc không yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án. Nếu các bên có yêu cầu thì HGV chuyển biên bản cùng tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính để xem xét ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, kết quả đối thoại thành. Thời hạn chuẩn bị ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành là 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo. Trong thời hạn này, Thẩm phán được phân công xem xét ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành được thực hiện một số quyền như yêu cầu một hoặc các bên trình bày ý kiến về kết quả HGT, ĐTT, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cung cấp cho Tòa án tài liệu có liên quan…Khi xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật HGĐT thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành. Nếu không đủ điều kiện thì Thẩm phán ra quyết định không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành và nêu rõ lý do. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

2. Những lợi ích khi thực hiện Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Qua nghiên cứu các quy định của Luật HGĐT và thực tiễn áp dụng tại các Tòa án cho thấy, việc thực thi phương thức HGĐT tại Tòa án đem đến nhiều lợi ích cho xã hội, cụ thể như sau:

Thứ nhất, phương thức HGĐT giúp tiết kiệm công sức, thời gian cho các bên tham gia HGĐT và cho Tòa án.

Khi lựa chọn thủ tục HG ĐT tại tòa án, các bên có quyền lựa chọn HGV trong danh sách Hòa giải viên của Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính; trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện thì có thể lựa chọn Hòa giải viên của Tòa án nhân dân cấp huyện khác trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Quyền lựa chọn Hòa giải viên đã tăng thêm sự chủ động và sự tin tưởng vào Hòa giải viên của các bên tham gia hòa giải, đối thoại, làm tăng cơ hội hòa giải thành, đối thoại thành. Sau khi đã lựa chọn được HGV, các bên có thể chủ động, sắp xếp thời gian, địa điểm, hình thức hòa giải cho phù hợp với mình mà không phụ thuộc vào thời gian và lịch làm việc của Tòa án như khi vụ việc được giải quyết theo thủ tục tố tụng. Hòa giải viên có thể gặp gỡ các bên trong giờ hành chính hoặc ngoài giờ hành chính, tại trụ sở hoặc ngoài trụ sở Tòa án phù hợp với hoàn cảnh, nhu cầu của các bên. Phiên hòa giải, đối thoại có thể được thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc hình thức phù hợp khác theo đề nghị của các bên. Riêng phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại thì tổ chức tại trụ sở Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc, có sự tham gia của Thẩm phán. Bên cạnh đó, thủ tục HGĐT tại Tòa án được tiến hành một cách nhanh chóng, dành quyền chủ động cho các bên. Thời gian từ lúc Tòa án nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đến lúc chỉ định Hòa giải viên là khoảng 15 ngày. Thời hạn hòa giải, đối thoại là 20 ngày kể từ ngày Hòa giải viên được chỉ định; đối với vụ việc phức tạp, thời hạn này có thể được kéo dài nhưng không quá 30 ngày; các bên có thể thống nhất kéo dài thời hạn hòa giải, đối thoại, nhưng không quá 02 tháng. Rõ ràng, thời gian này là ngắn hơn hẳn so với thời gian giải quyết một vụ việc theo thủ tục tố tụng.

Về phía Tòa án, nếu một vụ việc được các bên lựa chọn giải quyết theo trình tự, thủ tục HGĐT thì sẽ giảm bớt được chi phí cho các hoạt động tố tụng, giảm bớt áp lực về số lượng các vụ việc phải giải quyết hàng năm ngày càng có xu hướng tăng hiện nay.

Thứ hai, phương thức HGĐT giúp tiết kiệm chi phí cho các bên

Nhà nước khuyến khích hòa giải, đối thoại nên rất tiết kiệm chi phí cho các bên. Chi phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án do ngân sách nhà nước bảo đảm, trừ các trường hợp sau đây:

- Chi phí hòa giải đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại có giá ngạch. Mức thu cho việc chi thù lao của Hòa giải viên và chi phí hành chính phục vụ việc hòa giải tranh chấp về kinh doanh, thương mại có giá ngạch tại Tòa án là 2.000.000 đồng/1 vụ việc.

- Các chi phí khác, bao gồm: chi phí khi các bên thống nhất lựa chọn địa điểm hòa giải, đối thoại ngoài trụ sở Tòa án; Chi phí khi Hòa giải viên xem xét hiện trạng tài sản liên quan đến vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính mà tài sản đó nằm ngoài phạm vi địa giới hành chính của tỉnh nơi Tòa án có thẩm quyền giải quyết có trụ sở; Chi phí phiên dịch tiếng nước ngoài. Các chi phí này phát sinh trong một số ít trường hợp theo thực tế và lựa chọn của các bên.

Như vậy, trong phần lớn các vụ việc được hòa giải, đối thoại tại Tòa án, các bên không phải chịu chi phí thủ tục. Mặt khác, việc tiết kiệm thời gian, công sức cũng là tiết kiệm chi phí cho các bên tham gia hòa giải, đối thoại.

Thứ ba, phương thức HGĐT giúp bảo mật thông tin cho các bên

Theo quy định tại Điều 4 Luật HGĐT thì HGV, các bên, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được mời tham gia hòa giải, đối thoại không được tiết lộ thông tin mà mình biết được trong quá trình hòa giải, đối thoại. Trong quá trình hòa giải, đối thoại không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản hòa giải, đối thoại. Việc lập biên bản chỉ được thực hiện để ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại theo quy định tại Điều 31 của Luật này. Hòa giải viên, các bên chỉ được ghi chép để phục vụ cho việc hòa giải, đối thoại và phải bảo mật nội dung đã ghi chép. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sử dụng tài liệu, lời trình bày của các bên trong quá trình hòa giải, đối thoại làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật. Như vậy, theo quy định này thì HGĐT không cần phải tiến hành công khai, HGV phải giữ bí mật thông tin mà các bên đã cung cấp cho mình trong quá trình HGĐT. Điều này là sự khác biệt cơ bản so với thủ tục tố tụng tại Tòa án. Bởi tính hợp pháp của bản án, quyết định cần được đảm bảo thông qua tính công khai, tính công khai là trường hợp chung, không công khai là ngoại lệ. Xét xử công khai là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng. Trong trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án có thể xét xử kín.

Thứ tư, phương thức HGĐT góp phần “hóa giải các mâu thuẫn trong đời sống xã hội, giúp hàn gắn và duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa các bên

Một trong những ưu điểm mà HGĐT có được so với xét xử là không gây căng thẳng trong mối quan hệ giữa các bên. Nếu trong vụ án dân sự hoặc hành chính được giải quyết theo thủ tục tố tụng, sẽ có nguyên đơn, bị đơn, có người khởi kiện, người bị kiện với sự đối đầu gay gắt giữa các bên đương sự ngay từ khi tiến hành các thủ tục tố tụng đầu tiên tại Tòa án. Khi bản án, quyết định của Tòa án được ban hành thì không phải đương sự nào cũng “tâm phục khẩu phục” mà đôi khi còn làm trầm trọng hơn sự mâu thuẫn giữa các đương sự. Trong khi đó, HGĐT không phân biệt có nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị kiện mà chỉ có các bên trong mâu thuẫn, tranh chấp. Với sự hỗ trợ, hướng dẫn của HGV giàu tâm huyết và năng lực, các bên có thể giãi bày những tâm tư, nguyện vọng của mình và dần tháo gỡ các mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên, hàn gắn và duy trì mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình, bạn bè, tình làng nghĩa xóm, quan hệ đối tác…Vì vậy, sẽ giảm bớt tâm lý “mất mặt” hay “xấu hổ, tức giận” của các bên khi phải giải quyết tranh chấp, kiện tụng. Đặc biệt, trong hòa giải tranh chấp hôn nhân và gia đình, trường hợp đoàn tụ thành đã hàn gắn được hạnh phúc gia đình; trường hợp thuận tình ly hôn cũng giúp các bên giữ được hòa khí, vợ chồng thống nhất được người nuôi con, phương thức nuôi dạy con phù hợp và cùng hỗ trợ hợp tác trong việc nuôi con sau ly hôn. Đây là ý nghĩa rất lớn của hòa giải, đối thoại mà phương thức giải quyết tranh chấp, khiếu kiện bằng con đường tố tụng không có được.

Thứ năm, kết quả hòa giải thành, đối thoại thành được Tòa án công nhận và có hiệu lực thi hành cao

Theo quy định tại Điều 35 Luật HGĐT thì: i) Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; ii) Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và iii) Quyết định công nhận kết quả đối thoại thành được thi hành theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. Như vậy, kết quả hòa giải thành, đối thoại thành được Tòa án công nhận bằng thủ tục nhanh gọn và có giá trị thi hành như bản án khi có yêu cầu của các bên tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Các bên không phải trả lệ phí cho thủ tục xét công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án.

Hòa giải, đối thoại tại Tòa án là một thiết chế mới tại Việt Nam, đáp ứng xu thế giải quyết tranh chấp bằng các phương pháp thay thế trên thế giới ngày nay. Tuy nhiên, do là thiết chế mới nên một số người dân chưa được tiếp cận đầy đủ các quy định pháp luật cũng như những lợi ích và thuận tiện mà nó mang lại. Do đó, trong thời gian tới, cần tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp phổ biến, tuyên tuyền để góp phần cho việc thực thi Luật HGĐT trong mối tương quan với pháp luật tố tụng trên thực tế được thuận lợi, thành công./.

Nguyễn Thị Hương – Tòa án nhân dân huyện Kim Động

*1Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2000.

*2 TS. Đào Thị Xuân Lan- Thẩm phán TAND tối cao, Kỹ năng đối thoại tại Tòa án, Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải, đối thoại tại Tòa án khóa 1, Hà Nội, 2020, tr. 68

*3. TS. Đào Thị Xuân Lan- Thẩm phán TAND tối cao, Kỹ năng đối thoại tại Tòa án, Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải, đối thoại tại Tòa án khóa 1, Hà Nội, 2020, tr. 69


Các tin khác

Lượt xem: 109
cdscv