Loading...
Skip to main content

Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên tổ chức phổ biến, tuyên truyền, quán triệt Luật hòa giải, đối thoại đến các đơn vị trực thuộc

(06/05/2022 16:13)

Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án được thông qua tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội Khóa XIV, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021. Để triển khai, thực hiện đưa Luật Hòa giải, đối thoại đi vào thực tiễn cuộc sống, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số 02/2020/TT-TANDTC ngày 16/11/2020 quy định chi tiết về trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án và Thông tư số 03/2020/TT-TANDTC ngày 16/11/2020 quy định chi tiết về trình tự nhận, xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu tại Tòa án và chỉ định hòa giải viên.

Với quy định hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án ra đời đã giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, khiếu kiện hành chính...tại Tòa án đi vào thực tiễn đã có những chuyển biến tích cực trong giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn trong cộng đồng dân cư. Đối với đương sự được lựa chọn cách thức giải quyết mâu thuẫn ngắn gọn, linh hoạt, phù hợp với thực tế tại địa phương. Đối với Tòa án đã phần nào giảm áp lực về số lượng các vụ việc tranh chấp giải quyết ngày càng gia tăng trong những năm gần đây. Tuy nhiên, kết quả thu được từ các Tòa án địa phương theo Luật hòa giải, đối thoại là chưa cao, một số địa phương còn có sự quan tâm chưa đúng mức đến chế định này.

Ngày 14/3/2022, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Chỉ thị số 02/2022/CT-CA về việc tăng cường công tác hòa giải, đối thoại theo Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án. Chỉ thị các Tòa án địa phương tăng cường các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa thực hiện có hiệu quả hoạt động hòa giải, đối thoại và tập trung vào các giải pháp sau:

- Tập trung chỉ đạo và tổ chức thi hành Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án và phải xác định hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Tòa án nhân dân.

- Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án để người dân nắm bắt được lợi ích từ hoạt động hòa giải, đối thoại thông qua việc: Trực tiếp phổ biển, tuyên truyền cho người khởi kiện, người yêu cầu thông qua Thẩm phán, Hòa giải viên, cán bộ Tòa án...; Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; Tập trung nâng cao năng lực hoạt động của Hòa giải viên và phát huy tính linh hoạt trong hoạt động hòa giải, đối thoại.

- Chỉ tiêu về hòa giải, đối thoại của Tòa án trong một năm:

Phấn đấu tỷ lệ các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, khiếu kiện hành chính mà Tòa án chuyển sang hòa giải, đối thoại so với số lượng vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, khiếu kiện hành chính mà Tòa án nhận được trong một năm đạt tỷ lệ từ 80% trở lên.

Phấn đấu tỷ lệ các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, khiếu kiện hành chính mà Tòa án được Hòa giải viên hòa giải thành, đối thoại thành theo quy định của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án so với số lượng vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, khiếu kiện hành chính mà Tòa án chuyển sang hòa giải, đối thoại trong một năm đạt tỷ lệ 70% trở lên.

Phấn đấu số lượng quyết định của Tòa án về công nhận, không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, khiếu kiện hành chính so với số lượng yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án trong một năm đạt tỷ lệ 100%.

Nhằm khuyến khích Thẩm phán tuyên truyền, tích cực chuyển vụ việc sang hòa giải, đối thoại, Chỉ thị đã ấn định và ghi nhận chỉ tiêu thi đua giải quyết án của Thẩm phán như sau:

01 vụ việc được chuyển sang hòa giải, đối thoại thì Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại; Thẩm phán tham gia phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại; Thẩm phán ra quyết định công nhận/ không công nhận kết quả hòa giải, đối thoại được tính chỉ tiêu thi đua = 0,5 vụ việc mà mỗi Thẩm phán đã xét xử, giải quyết. Nếu một Thẩm phán đồng thời là Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại; Thẩm phán tham gia phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại; Thẩm phán ra quyết định công nhận/ không công nhận kết quả hòa giải, đối thoại thì Thẩm phán đó được tính chỉ tiêu thi đua = 1,5 vụ việc đã xét xử, giải quyết.

Để triển khai Chỉ thị số 02/2022/CT-CA ngày 14/3/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và hướng dẫn quy trình hòa giải, đối thoại theo Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án ban hành kèm theo. Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã ban hành Công văn số 130/CV-TA ngày 12/4/2022 về việc quán triệt thực hiện Chỉ thị số 02/2022/CT-CA ngày 14/3/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và tổ chức đoàn công tác của Tòa án nhân dân tỉnh triển khai thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến, quán triệt đến một số đơn vị trực thuộc trong hệ thống Tòa án hai cấp tỉnh Hưng Yên với một số nội dung trọng tâm là:

Xác định việc tổ chức thi hành Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần tuyên truyền, triển khai thực hiện có hiệu quả trong năm công tác 2022 và những năm tiếp theo.

Thực hiện đầy đủ nội dung được nêu trong Chỉ thị số 02/2022/CT-CA ngày 14/3/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, trong đó cần nêu rõ và đẩy mạnh tuyên truyền mục đích và lợi ích từ hòa giải, đối thoại mang lại như:

Phương thức hòa giải, đối thoại được tiến hành linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, đặc điểm của mỗi loại vụ việc được ghi nhận là một nguyên tắc hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Sự linh hoạt trong thủ tục giúp tiết kiệm công sức và thời gian cho các bên, thể hiện ở những khía cạnh sau.

Các bên có quyền lựa chọn Hòa giải viên trong danh sách Hòa giải viên của Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc, có thể lựa chọn Hòa giải viên của Tòa án nhân dân cấp huyện khác trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Quyền lựa chọn Hòa giải viên đã tăng thêm sự chủ động và sự tin tưởng vào Hòa giải viên của các bên tham gia hòa giải, đối thoại, làm tăng cơ hội hòa giải thành, đối thoại thành. Hòa giải viên có thể gặp gỡ các bên trong giờ hành chính hoặc ngoài giờ hành chính, tại trụ sở hoặc ngoài trụ sở Tòa án phù hợp với hoàn cảnh, nhu cầu của các bên, chi phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án do ngân sách nhà nước bảo đảm, trừ các trường hợp luật định...

Hàng tháng báo cáo kết quả giải quyết các vụ, việc thông qua hòa giải, đối thoại theo Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án về Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án để theo dõi tổng hợp, về Phòng Tổ chức cán bộ, thanh tra và thi đua khen thưởng để theo dõi kết quả thi đua (ngày cuối cùng của tháng).

Bố trí, sắp xếp phòng làm việc, cơ sở vật chất, trang thiết bị và hướng dẫn Thẩm phán phụ trách hòa giải; Hòa giải viên làm việc theo quy định tại khoản 3 phần I của Chỉ thị.

Với việc đồng thời ban hành văn bản đôn đốc và trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, quán triệt hy vọng trong thời gian tới việc thực hiện Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án tại tỉnh Hưng Yên đạt những kết quả cao.

Nguyễn Việt Cường


Các tin khác

Lượt xem: 319
cdscv