Skip to main content

Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án - Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia giải quyết công việc tại Tòa án nhân dân các cấp

(26/11/2020 09:49)

Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày 16/6/2020 gồm 4 chương, 42 điều; luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021.

Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án có hiệu lực thi hành là căn cứ, chế định pháp lý giải phóng cả một khối lượng lớn công việc dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại và lao động ...ngày càng tăng cao; giảm tải áp lực cho hệ thống Tòa án nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách tư pháp, hội nhập và phát triển. Điều đó được khẳng định ngay tại Điều 1 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhưng lại không phải bị áp đặt bởi thiết chế tố tụng và Tòa án: “Hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính”.

Quy định này hoàn toàn không bị trùng lặp, chồng chéo với các thiết chế hòa giải đang có tại Việt Nam như hòa giải ở cơ sở theo quy định của Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013; Hòa giải tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật lao động năm 2019; Hòa giải thương mại theo quy định của Luật Thương mại năm 2005; Hòa giải tranh chấp đất đai của UBND cấp xã theo quy định của Luật đất đai năm 2013; Hòa giải tranh chấp sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền và lợi ích của người tiêu dùng... Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án với các thiết chế hòa giải hiện có nêu trên đều là hòa giải ngoài tố tụng nhưng thiết chế hòa giải, đối thoại tại Tòa án là một chế định mới, là một giải pháp căn cơ để giảm tài công việc trong cả hệ thống Tòa án nhân dân, kết quả hòa giải, đối thoại thành được công nhận và thi hành theo quy định không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Những nội dung, thiết chế nổi bật của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án được quy định như:

1/ Về bảo mật thông tin hòa giải, đối thoại được Luật hóa rất chặt chẽ, không bị chia sẻ, không được sao chép và không được tiết lộ dưới bất kỳ hình thức nào từ chủ thể là hòa giải viên và các đương sự ngay tại Điều 4: “Hòa giải viên, các bên, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được mời tham gia hòa giải, đối thoại không được tiết lộ thông tin mà mình biết được trong quá trình hòa giải, đối thoại. Trong quá trình hòa giải, đối thoại không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản hòa giải, đối thoại. Việc lập biên bản chỉ được thực hiện để ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại theo quy định tại Điều 31 của Luật này. Hòa giải viên, các bên chỉ được ghi chép để phục vụ cho việc hòa giải, đối thoại và phải bảo mật nội dung đã ghi chép”.

2/ Về phương thức hòa giải, đối thoại được quy định hết sức linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, đặc điểm của mỗi loại vụ việc do Hòa giải viên thực hiện theo quy định của Luật. Với quy định này, ta thấy Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định rất mở so với các thiết chế hòa giải ở cơ sở khác để tận dụng tối đa về thời gian (không nhất thiết trong giờ hành chính hay ngoài giờ hành chính), về địa điểm (không nhất thiết tại trụ sở của Trung tâm hòa giải, Trụ sở cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương hay tại nhà văn hóa cộng đồng...) mà có thể tổ chức, tiến hành ngay tại địa điểm, nhà, trụ sở làm việc... của các bên có tranh chấp.

3/ Về lựa chọn Hòa giải viên, mỗi vụ, việc do 01 Hòa giải viên tiến hành hòa giải, đối thoại. Đây là sự hoàn toàn khác biệt với các thiết chế hòa giải cơ sở khác cần phải triệu tập đầy đủ các thành viên của tổ hòa giải từ 3 đến 5 người, việc thống nhất về thời gian để triệu tập được đủ các thành viên của tổ hòa giải cũng khá dài. Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định việc Hòa giải, đối thoại do 01 hòa giải viên tiến hành, theo trình tự, thủ tục, thời hạn được luật hóa rất khoa học nên sẽ có thời gian, điều kiện nhanh nhất, sớm nhất để xúc tiến việc hòa giải vụ việc giúp đương sự nhanh chóng gỡ rối mâu thuẫn đang mắc phải.

Theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án còn được quy định một chế định có thể gọi là “chiều lòng” đương sự tại khoản 2 Điều 17 “Người khởi kiện, người yêu cầu lựa chọn Hòa giải viên trong danh sách Hòa giải viên của Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc và thông báo họ tên, địa chỉ của Hòa giải viên cho Tòa án”. Người khởi kiện, người yêu cầu có quyền được đắn đo, cân nhắc và đặt niềm tin của mình nơi Hòa giải viên có trình độ, năng lực, tâm huyết và hiệu quả công việc là trên và trước hết. Hơn nữa, người khởi kiện, người yêu cầu không chỉ có quyền lựa chọn Hòa giải viên trong danh sách thuộc Tòa án nơi mình cư trú, làm việc mà còn có quyền lựa chọn Hòa giải viên tại địa bàn khác theo quy định tại khoản 3 Điều 17 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

4/ Về chủ thể tiến hành hòa giải, đối thoại là Hòa giải viên và Hòa giải viên phải là những người từng kinh qua, giầu kinh nghiệm, đã công tác, làm việc tại các cơ quan tư pháp, đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán đã nghỉ hưu, tại điểm a khoản 1 Điều 10 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định: “ Đã là Thẩm phán, Thẩm tra viên Tòa án, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên Viện kiểm sát; Chấp hành viên Thi hành án dân sự; Thanh tra viên, Luật sư, chuyên gia, nhà chuyên môn khác có ít nhất 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác...”. Có thể nói thiết chế Hòa giải, đối thoại tại Tòa án được triển khai và thi hành sớm thì đây là nguồn nhân lực chất lượng cao, ổn định tại địa phương, có trình độ chuyên môn, uy tín, có bề dày kinh nghiệm hòa giải từ 20 đến 30 năm làm công tác xét xử và hòa giải trong tố tụng (theo số liệu tổng hợp từ thí điểm tại 16 địa phương cho thấy: tại Nghệ An chiếm tỷ lệ 13/18 người; Hà Nội là 48/ 65 người; Hải Phòng là 32/55 người...). Đây là “Nguồn nhân lực chất lượng cao” tham gia vào giải quyết các công việc của Tòa án. Là giải pháp căn cơ, giúp giải quyết khối lượng công việc ngày càng nặng nề, trong bối cảnh hàng năm các tranh chấp, khiếu kiện không ngừng tăng lên cả về số lượng (năm 2017, Tòa án thụ lý 394.970 vụ việc, thụ lý tăng 41.521 vụ việc, tăng 11,8% so với năm 2016; năm 2018, Tòa án thụ lý 448.068 vụ việc, so với năm 2017, thụ lý tăng 53.098 vụ việc tăng 13,4%) và tính chất phức tạp.

5/ Về hiệu lực của quyết định công nhận kết quả hòa giải, đối thoại thành tại Tòa án được ghi nhận và đảm bảo thi hành theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự. Tại Điều 35, quy định “Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính”.   

Xuất phát từ nhu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống; từ ý nghĩa, tầm quan trọng của hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án ra đời và đi vào cuộc sống từ ngày 01/01/2021 đã thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về đa dạng hóa các phương thức giải quyết tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính thông qua việc xây dựng cơ chế pháp lý mới về hòa giải, đối thoại. Giúp người dân có thêm sự lựa chọn tin cậy mà hệ thống Tòa án nhân dân đang phấn đấu thực hiện. Tòa án phải là: “Biểu tượng của công lý, lẽ phải và niềm tin.

Nguyễn Việt Cường


Các tin khác

Lượt xem: 126
cdscv